LAO ĐỘNG - BẢO HIỂM

Trách nhiệm thông báo khi hợp đồng lao động chấm dứt
Ngày đăng 06/05/2022 | 18:14  | Lượt xem: 387

Em làm việc cho Công ty theo hợp đồng lao động có thời hạn. Vì mải làm và không để ý, một hôm đến Công ty thì bảo vệ không cho vào, vì thẻ ra vào bị khóa và lý do là hợp đồng lao động của em đã hết hạn.

Xin hỏi các anh chị, Công ty có phải thông báo cho người lao động về việc đồng lao động chấm dứt do hết hạn hay không?

Trả lời

Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.

Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

Một trong những nội dung chủ yếu của Hợp đồng lao động, theo điểm d khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này là “Thời hạn của hợp đồng lao động”.

Thời hạn hợp đồng lao động do hai bên thỏa thuận, là khoảng thời gian kể từ thời điểm hợp đồng bắt đầu có hiệu lực đến khi hợp đồng kết thúc hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Điều 34 của Bộ luật này quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

“1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

5. Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6. Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này.

11. Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Bộ luật này.

12. Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

13. Trường hợp thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc”.

Ngoài trường hợp phải gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hết hạn hợp đồng lao động, hợp đồng lao động chấm dứt khi hết hạn.

Mặc dù vậy, khi hợp đồng lao động giữa bạn và Công ty chấm dứt do hết thời hạn, Công ty nơi bạn làm việc vẫn phải thực hiện trách nhiệm thông báo cho bạn. Bởi vì, theo khoản 1 Điều 45 của Bộ luật này, “người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 34 của Bộ luật này”.

Trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động thì thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động tính từ thời điểm có thông báo chấm dứt hoạt động. Nếu người sử dụng lao động không phải là cá nhân bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc UBND cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật theo quy định tại khoản 7 Điều 34 của Bộ luật này thì thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động tính từ ngày ra thông báo.

Vì là nghĩa vụ, cho nên nếu Công ty nơi bạn làm việc không thực hiện, họ sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ. Đó là: “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi không thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định của Bộ luật Lao động, trừ trường hợp quy định tại các  khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 34 của Bộ luật Lao động”.

Cũng cần lưu ý, mức phạt tiền nêu trên áp dụng cho cá nhân vi phạm. Theo khoản 1 Điều 6 của Nghị định này, “Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Có nghĩa là, vi phạm quy định về thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt, Công ty nơi bạn làm việc bị phạt tiền từ 2 triệu đến 6 triệu đồng.

Thu Hường