LAO ĐỘNG - BẢO HIỂM

Tạm đình chỉ công việc của người lao động để xác minh phục vụ xử lý kỷ luật lao động
Ngày đăng 09/02/2022 | 17:40  | Lượt xem: 281

Giám đốc Công ty nơi chúng em làm việc vừa thông báo quyết định kỷ luật bằng hình thức tạm đình chỉ công việc của quản đốc phân xưởng sơn mạ trong thời hạn 01 tháng, với lý do anh này không quản lý đầy đủ giờ giấc làm việc của công nhân và không chứng minh được mình không có lỗi trong chuyện này.

Xin hỏi các anh chị, quyết định kỷ luật nêu trên của Giám đốc Công ty có hợp pháp hay không?

Trả lời

Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định.

Điều 122 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động như sau:

“1. Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:

a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên;

c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật;

d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản.

2. Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.

3. Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.

4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật này;

d) Người lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

5. Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

6. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động”.

Như vậy, về nguyên tắc, khi xử lý kỷ luật lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm và phải chứng minh được lỗi của người lao động. Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa. Trường hợp người lao động là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật. Người lao động có quyền chứng minh mình không có lỗi, điều đó đồng nghĩa, đây không phải là nghĩa vụ bắt buộc như trường hợp Công ty nơi bạn làm việc yêu cầu giám đốc phân xưởng.

Theo khoản 1 Điều 70 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, “khi phát hiện người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, người sử dụng lao động tiến hành lập biên bản vi phạm và thông báo đến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành viên, người đại diện theo pháp luật của người lao động chưa đủ 15 tuổi. Trường hợp người sử dụng lao động phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật lao động sau thời điểm hành vi vi phạm đã xảy ra thì thực hiện thu thập chứng cứ chứng minh lỗi của người lao động”.

Việc xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản, bao gồm biên bản vi phạm, biên bản họp xử lý kỷ luật lao động. Trong thời hiệu xử lý kỷ luật lao động, người có thẩm quyền ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động và gửi đến các thành phần phải tham dự là tổ chức đại diện người lao động, người lao động, người đại diện theo pháp luật của người lao động.

Tạm đình chỉ công việc được quy định tại Điều 128 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14. Cụ thể:

“1. Người sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh. Việc tạm đình chỉ công việc của người lao động chỉ được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xem xét tạm đình chỉ công việc là thành viên.

2. Thời hạn tạm đình chỉ công việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt không được quá 90 ngày. Trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc.

Hết thời hạn tạm đình chỉ công việc, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc.

3. Trường hợp người lao động bị xử lý kỷ luật lao động, người lao động cũng không phải trả lại số tiền lương đã tạm ứng.

4. Trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động thì được người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc”.

Tạm đình chỉ công việc của người lao động để thực hiện xác minh phục vụ xử lý kỷ luật lao động khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp, người sử dụng lao động xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh. Đó không phải là một hình thức xử lý kỷ luật lao động. Bởi vì, Điều 124 Bộ luật này quy định các hình thức xử lý kỷ luật lao động bao gồm:

“1. Khiển trách.

2. Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng.

3. Cách chức.

4. Sa thải”.

Lưu ý, việc tạm đình chỉ công việc của người lao động để thực hiện xác minh phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật nêu trên về thời hạn, quyền tạm ứng và mức tiền lương, trách nhiệm nhận người lao động trở lại làm việc và trả đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc nếu người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động.

Thu Hường