LAO ĐỘNG - BẢO HIỂM

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật
Ngày đăng 21/06/2022 | 14:48  | Lượt xem: 300

Em sinh đôi, nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con vất vả hơn những người khác. Vì vậy, sau 6 tháng nghỉ sinh, quay trở lại làm việc em đã từ chối đi công tác xa theo yêu cầu của Công ty.

Với lý do em không chấp hành, Công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với em.

Xin hỏi các anh chị, Công ty làm như vậy có đúng quy định của pháp luật hay không? Khi em nghỉ việc thì có được hưởng trợ cấp thôi việc như các trường hợp chấm dứt hợp đồng khác hay không?

Trả lời

Theo khoản 1 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, “lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng”.

Như vậy, vì bạn sinh đôi, nên thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của bạn (tính cả trước và sau khi sinh con) là 7 tháng. Lưu ý, thời gian hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

Một trong các trường hợp người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2014 là “đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý”.

Tóm lại, nếu trước và sau khi sinh bạn đã nghỉ 06 tháng, bạn còn 01 tháng nghỉ hưởng chế độ thai sản. Khi đi làm trở lại và trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu không có sự đồng ý của bạn, Công ty không được yêu cầu làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa.

Việc Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn vì lý do bạn từ chối đi công tác xa là trái quy định của pháp luật. Bởi vì, theo Điều 37 của Bộ luật này, người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau:  

“1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Về nguyên tắc, mỗi bên đều có quyền hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước nhưng phải thông báo bằng văn bản và phải được bên kia đồng ý. Nhưng đó là đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng quy định của pháp luật.

Do Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, họ phải thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 41 của Bộ luật này. Đó là:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động”.

Nếu bạn không muốn tiếp tục làm việc tại Công ty sau khi bị chấm dứt hợp đồng trái pháp luật như thông tin bạn nêu, Công ty có nghĩa vụ trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bạn không được làm việc và phải trả thêm cho bạn một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Ngoài ra, Công ty còn phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này như sau:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian bạn đã làm việc thực tế cho Công ty trừ đi thời gian bạn đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được Công ty chi trả trợ cấp thôi việc.

Tổng thời gian bạn đã làm việc thực tế cho Công ty bao gồm: thời gian bạn đã trực tiếp làm việc; thời gian thử việc; thời gian được cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được Công ty trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động…

Thu Hường