LAO ĐỘNG - BẢO HIỂM

Các trường hợp vi phạm bị áp dụng hình thức kỷ luật sa thải
Ngày đăng 21/06/2022 | 14:50  | Lượt xem: 286

Trong lúc say rượu ở quán bar, karaoke bạn gái tôi đã lấy chiếc điện thoại của người khác. Khi phát hiện, chủ quán bar, karaoke đã gửi thông báo tới nơi cô ấy làm việc.

Lấy lý do giữ hình ảnh của Công ty, giám đốc đã ký quyết định sa thải bạn gái tôi.

Không biết, Công ty quyết định kỷ luật như vậy có đúng tính chất, mức độ hay không?

Trả lời

Theo quy định của pháp luật, có 04 hình thức xử lý kỷ luật lao động, bao gồm:

- Khiển trách.

- Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng.

- Cách chức.

- Sa thải.

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp được quy định tại Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019 như sau:

“1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động”.

Như vậy, người sử dụng lao động chỉ được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với người lao động có hành vi trộm cắp tại chính nơi làm việc.

Trường hợp người lao động thực hiện hành vi này ở nơi khác như thông tin của bạn, người sử dụng lao động quyết định sa thải họ là không đúng, thậm chí đã vi phạm quy định về kỷ luật lao động và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Cụ thể, theo điểm c khoản 3 Điều 19 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ, người sử dụng lao động có một trong các hành vi “xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết hoặc pháp luật về lao động không quy định” bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Đồng thời, bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại điểm a khoản 4 của Điều này là “buộc người sử dụng lao động nhận người lao động trở lại làm việc và trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động tương ứng với những ngày nghỉ việc khi người sử dụng lao động áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 2, điểm c khoản 3 Điều này”.

Cũng cần lưu ý, mặc dù người lao động có hành vi trộm cắp ở ngoài nơi làm việc không thuộc trường hợp bị sa thải, nhưng nếu bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý đến mức không thể tiếp tục làm việc cho người lao động thì hợp đồng lao động đó chấm dứt. Bạn có thể nghiên cứu Điều 34 của Bộ luật Lao động năm 2019 để biết rõ hợp đồng lao động của bạn gái mình với Công ty có bị chấm dứt hay không.

“Điều 34. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

5. Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6. Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết”.

Hùng Phi