LAO ĐỘNG - BẢO HIỂM

03 hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động
Ngày đăng 31/08/2022 | 16:30  | Lượt xem: 272

Chúng em đăng ký tuyển dụng vào một doanh nghiệp điện tử. Một trong những điều kiện giao kết và thực hiện hợp đồng là người trúng tuyển phải chuyển văn bằng chứng chỉ bản gốc cho Công ty giữ như biện pháp bảo đảm làm việc, gắn bó lâu dài ở đây.

Đại diện tuyển dụng cho biết, đây là tiền lệ đã thực hiện tại Công ty từ ngày đầu thành lập, trên cơ sở người lao động có đơn tự nguyện.

Chế độ đãi ngộ của Công ty theo thông báo tuyển dụng rất tốt. Tuy nhiên, chúng em cũng lo lắng về yêu cầu nêu trên vì có thể phát sinh rủi ro liên quan đến việc bảo quản văn bằng, chứng chỉ, hay khi có cơ hội tốt hơn người lao động muốn thay đổi công việc nhưng Công ty không trả lại kịp thời để làm hồ sơ...

Xin hỏi các anh chị Công ty có quyền yêu cầu người lao động nộp văn bằng chứng chỉ bản gốc khi giao kết và thực hiện hợp đồng lao động hay không?

Trả lời

Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về Hợp đồng lao động như sau:

“1. Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.

2. Trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động”.

Theo Điều 15 của Bộ luật này, khi giao kết hợp đồng lao động phải đảm bảo nguyên tắc sau đây:

“1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.

Như vậy, tự do thỏa thuận, tự do giao kết hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật là quyền của người lao động và người sử dụng lao động.

Để có thông tin trước khi giao kết hợp đồng, đảm bảo thực hiện quyền nêu trên của các bên, nghĩa vụ tương ứng của mỗi bên bao gồm:

- Người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu.

- Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.

Một trong các trường hợp hợp đồng lao động chấm dứt được quy định tại khoản 9 Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019 là “người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này”.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cũng là quyền của người lao động. Pháp luật hiện nay chỉ quy định các trường hợp và thời hạn cần báo trước, không cần báo trước.

Chính vì vậy, người sử dụng lao động không được thực hiện các hành vi khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động quy định cụ thể tại Điều 17 của Bộ luật này. Đó là:

“1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

3. Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động”.

Ngay cả khi giao kết hợp đồng lao động người lao động vì không biết quy định nêu trên hoặc biết mà chấp nhận thực hiện theo yêu cầu của người sử dụng lao động thì hành vi của người sử dụng lao động cũng đã vi phạm quy định của pháp luật.

Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ quy phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng hoặc chứng chỉ của người lao động khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động;

b) Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động;

c) Giao kết hợp đồng lao động với người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà không có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người đó.

Thêm nữa điểm d khoản 3 của Điều này quy định:  “Buộc người sử dụng lao động trả lại bản chính giấy tờ tùy thân; văn bằng; chứng chỉ đã giữ của người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này”.

Có nghĩa là, ngoài việc bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng, người sử dụng lao động còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phải trả lại bản chính giấy tờ tùy thân; văn bằng; chứng chỉ đã giữ của người lao động.

Hùng Phi