LAO ĐỘNG - BẢO HIỂM

Đơn phương chấm dứt hợp đồng khi người lao động đang điều trị tai nạn
Ngày đăng 10/07/2022 | 18:14  | Lượt xem: 360

Chị gái tôi bị tai nạn lao động, đang điều trị dài ngày theo chỉ định của bác sỹ (có giấy tờ của cơ sở y tế). Vậy mà Công ty nơi chị ấy làm việc lại ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với chị để tuyển dụng người khác với lý do cần người thay thế đảm đương công việc. Chị gái tôi mới biết việc này khi có người làm cùng phân xưởng đến thăm.

Xin hỏi: Công ty có quyền chấm dứt hợp đồng với người lao động đang điều trị tai nạn lao động hay không?

Trả lời

Tai nạn lao động, theo khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, “là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.

Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 45 của Luật này như sau:

“1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này;

3. Người lao động không được hưởng chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Theo khoản 1 Điều 40 của Luật này, người lao động không được hưởng chế độ nếu bị tai nạn thuộc một trong các nguyên nhân sau:

“a) Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;

b) Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;

c) Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật”.

Tóm lại, chị gái bạn được hưởng chế độ tai nạn lao động nếu tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bị tai nạn thuộc một các trường hợp nêu trên, suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên và không thuộc trường hợp không được hưởng chế độ khi bị tai nạn lao động.

Về nguyên tắc, người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động năm 2019 là “Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động”.

Thông tin của bạn cho thấy, chị gái bạn ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 2 năm (24 tháng) với Công ty, trong quá trình làm việc bị tai nạn lao động và đang nằm viện để điều trị.

Nếu chị gái bạn điều trị tai nạn lao động liên tục 6 tháng, Công ty nơi chị ấy làm việc có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là đúng quy định của pháp luật.

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, theo điểm b khoản 2 của Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động “Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng”.

Vì vậy, nếu không báo trước đúng thời hạn nêu trên, Công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị gái bạn trái pháp luật. Theo Điều 41 của Bộ luật này, họ phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động”.

Hùng Phi