HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Ngày đăng 15/08/2018 | 00:00  | Lượt xem: 221

  Vợ chồng tôi có một thửa đất đã thỏa thuận chuyển nhượng cho người khác nhưng chưa ký hợp đồng mà chỉ mới giao nhận tiền đặt cọc.

  Vợ chồng tôi có một thửa đất đã thỏa thuận chuyển nhượng cho người khác nhưng chưa ký hợp đồng mà chỉ mới giao nhận tiền đặt cọc.

Trong thời gian này, tình cảm vợ chồng tôi gặp một số vấn đề. Cô ấy đã bỏ về nhà mẹ đẻ, đồng thời không hợp tác cho việc làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất nói trên.

Chúng tôi đang đứng trước nguy cơ phải trả lại tiền đặt cọc và bồi thường thêm bằng đúng số tiền đó cho người nhận chuyển nhượng. Tôi đã cố gắng thuyết phục và người này đồng ý nhận chuyển nhượng một nửa thửa đất đã thỏa thuận (là phần của tôi).

Tôi không muốn ly hôn. Nếu vợ tôi không hợp tác, tôi có thể đề nghị cơ quan nào can thiệp để chia thửa đất và tự quyết định chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu của riêng mình cho người khác hay không?

Trả lời

Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Theo thông tin của bạn, thửa đất là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt thực hiện theo quy định tại Điều 35 của Luật này. Cụ thể:

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”.

Rõ ràng, trước đó vợ chồng bạn đã thỏa thuận về việc nhận tiền đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất cho người khác. Chỉ khi có mâu thuẫn, vợ bạn mới không hợp tác để tiếp tục thực hiện các thủ tục có liên quan. Có nghĩa là, vợ chồng bạn có nghĩa vụ chung với những gì đã thỏa thuận, số tiền đặt cọc đã nhận của người khác. Bởi vì, theo Điều 37 của Luật này, vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

“1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan”.

Đó là lý do để bạn có thể thuyết phục vợ mình tiếp tục thực hiện giao dịch với người nhận chuyển nhượng thửa đất thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Nếu không, trách nhiệm do vi phạm thỏa thuận với người này là trách nhiệm chung của cả hai vợ chồng, chứ không phải của riêng bạn.

Về nguyên tắc, theo khoản 1 Điều 38 của Luật này, “trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Theo đó, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận chia thửa đất ngay trong thời kỳ hôn nhân mà không cần phải ly hôn. Lưu ý, thỏa thuận này phải lập thành văn bản, có công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Trường hợp vợ bạn vẫn không hợp tác, bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ áp dụng nguyên tắc và các quy định giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn để áp dụng cho trường hợp của bạn. Có điều, bạn cũng cần cân nhắc sử dụng giải pháp này, bởi lẽ, việc khởi kiện ra tòa có thể làm mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng hơn, phát sinh những hệ lụy không mong muốn.

Hùng Phi