HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con
Ngày đăng 28/07/2018 | 00:00  | Lượt xem: 248

Năm 2016 tôi có quan hệ với một người phụ nữ đã có chồng. Cả hai chúng tôi đều biết kết quả của mối quan hệ này là một bé gái. Lo sợ sự việc vỡ lở làm ảnh hưởng đến gia đình hai bên, đồng thời, chúng tôi biết về nguyên tắc con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mặc nhiên được công nhận là con chung của vợ chồng họ nên chúng tôi đành giữ kín.  

Năm 2016 tôi có quan hệ với một người phụ nữ đã có chồng. Cả hai chúng tôi đều biết kết quả của mối quan hệ này là một bé gái. Lo sợ sự việc vỡ lở làm ảnh hưởng đến gia đình hai bên, đồng thời, chúng tôi biết về nguyên tắc con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mặc nhiên được công nhận là con chung của vợ chồng họ nên chúng tôi đành giữ kín.

Vợ chồng tôi không có con, nay vợ chồng cô ấy đã ly hôn. Tôi đã thú nhận và được vợ đồng ý nhận con, với điều kiện không còn quan hệ gì với mẹ của cháu. Tuy nhiên, đến lúc này thì mẹ của cháu lại không chấp nhận và nói rằng cháu là con của chồng cũ.

Tôi có thể làm gì để chính thức được thừa nhận là bố của con tôi?

Trả lời

Việc xác định cha, mẹ cho con được quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”.

Có nghĩa là, về nguyên tắc con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 89 của Luật này, “người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình”.

Theo đó, bạn có thể thực hiện các thủ tục để đăng ký nhận cha cho con theo quy định tại Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014. Cụ thể:

“1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc”.

Hướng dẫn về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con, theo Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

“1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật”.

Trên thực tế, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con yêu cầu phải có văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con. Ví dụ như giám định AND xác định bạn và cháu bé là quan hệ cha - con.

Nếu không có giấy tờ này, bạn phải cung cấp các bằng chứng chứng minh khác như thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác. Đồng thời, phải có văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc cháu bé là con chung của hai người. Văn bản này còn phải có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Trường hợp mẹ của cháu không chấp nhận, không hợp tác để bạn có thể thực hiện thủ tục xác định cha cho con tại UBND cấp xã, bạn có thể yêu cầu Tòa án xác định cháu là con mình. Bởi vì Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con như sau:

“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.

Hùng Phi