HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Nghĩa vụ của vợ, chồng đối với người được bảo lãnh sau khi ly hôn
Ngày đăng 15/04/2018 | 00:00  | Lượt xem: 340

Cách đây một năm, con trai của chị gái chồng tôi đi lao động ở Đài Loan. Để có tiền nộp cho Công ty môi giới, mẹ cháu đã vay của một người hàng xóm 85 triệu đồng, thời hạn trả là 3 năm. Vợ chồng tôi phải ký làm chứng vay mượn và cam kết bảo lãnh số tiền này.

Cách đây một năm, con trai của chị gái chồng tôi đi lao động ở Đài Loan.

Để có tiền nộp cho Công ty môi giới, mẹ cháu đã vay của một người hàng xóm 85 triệu đồng, thời hạn trả là 3 năm. Vợ chồng tôi phải ký làm chứng vay mượn và cam kết bảo lãnh số tiền này.

Nay vợ chồng tôi đang làm thủ tục ly hôn. Xin hỏi, nghĩa vụ bảo lãnh nói trên có phải chia đôi như chia tài sản hay không? Sau khi ly hôn, giữa tôi và con trai của chị chồng không còn quan hệ gia đình nữa, liệu tôi có được miễn nghĩa vụ bảo lãnh hay không?

Trả lời

Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bảo lãnh như sau:

“1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”.

Trên thực tế, bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh. Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.

Thời hạn bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo cam kết của vợ chồng bạn là 3 năm. Đây cũng chính là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng bạn. Bởi vì, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

“1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan”.

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Sau khi ly hôn, quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba của vợ chồng bạn trong trường hợp này được áp dụng theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể:

“1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết”.

Có nghĩa là, cả hai vợ chồng bạn vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ số tiền 85 triệu đồng mà chị gái chồng của bạn vay với người hàng xóm.

Tuy nhiên, pháp luật dân sự cho phép các bên có thể thỏa thuận lại. Ví dụ: Sau khi ly hôn, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với người cho vay, lập lại văn bản về việc chuyển toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh số tiền vay cho chồng của bạn.

Nếu không thỏa thuận được, có thể áp dụng quy định nhiều người cùng bảo lãnh tại Điều 338 của Bộ luật này. Đó là: “Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Khi một người trong số những người bảo lãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình”.

Các bên có thể thỏa thuận về việc chia đôi trách nhiệm bảo lãnh riêng của vợ chồng bạn, chẳng hạn, mỗi người nhận bảo lãnh 42,5 triệu đồng. Khi đó, nếu đến hạn chị gái chồng cũ của bạn không trả được tiền vay, mỗi người sẽ phải thực hiện nghĩa vụ của mình riêng rẽ theo thỏa thuận này. Ngược lại, về nguyên tắc người cho vay có quyền yêu cầu một trong hai người phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh.

Nghĩa vụ bảo lãnh chỉ có thể phát sinh khi đến hạn trả nợ mà người vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Bên nhận bảo lãnh không được yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi nghĩa vụ chưa đến hạn. Vì thế, việc miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh chỉ có thể xảy ra tại thời điểm bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“1. Trường hợp bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì bên được bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Trường hợp chỉ một trong số nhiều người cùng bảo lãnh liên đới được miễn việc thực hiện phần nghĩa vụ bảo lãnh của mình thì những người khác vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của họ.

3. Trường hợp một trong số những người nhận bảo lãnh liên đới miễn cho bên bảo lãnh không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với mình thì bên bảo lãnh vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người nhận bảo lãnh liên đới còn lại”.

Tóm lại, mặc dù khi ký cam kết bảo lãnh, vợ chồng bạn có thể xuất phát từ quan hệ gia đình do chồng bạn là em trai của người vay. Tuy nhiên, pháp luật quy định nghĩa vụ của vợ chồng bạn với tư cách bên bảo lãnh, nên sau khi ly hôn, nếu không có thỏa thuận khác, bạn vẫn có trách nhiệm về tài sản đối với nghĩa vụ bảo lãnh khoản vay này.

Hùng Phi