HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Đưa tài sản chung của vợ chồng vào kinh doanh
Ngày đăng 01/05/2018 | 00:00  | Lượt xem: 213

  Chồng tôi cùng với hai người bạn chuẩn bị thành lập một Công ty cổ phần.  Trong đó, phần vốn góp của chồng tôi chính là căn nhà mà chúng tôi đang ở. 

Chồng tôi cùng với hai người bạn chuẩn bị thành lập một Công ty cổ phần.  Trong đó, phần vốn góp của chồng tôi chính là căn nhà mà chúng tôi đang ở. Về thủ tục, chồng tôi cho biết, cần phải chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu căn nhà này cho Công ty. Sau đó, khi làm ăn được, Công ty sẽ trả lại căn nhà cho vợ chồng tôi.

Tôi thấy tiềm ẩn nhiều rủi ro và rất lo lắng. Sổ đỏ mang tên chồng tôi, giả sử tôi không đồng ý, chồng tôi có tự ý quyết định được hay không?

Trả lời

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Theo thông tin của bạn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu căn nhà vợ chồng bạn đang ở mang tên chồng bạn, nhưng không nói rõ đó là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của chồng bạn.

Trường hợp đó là tài sản chung của vợ chồng, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt được quy định tại Điều 35 của Luật này. Cụ thể:

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”.

Thêm nữa, theo Điều 36 của Luật này, “trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản”.

Căn cứ các quy định nêu trên, nếu căn nhà là tài sản chung của vợ chồn, trong mọi trường hợp, việc định đoạt phải theo sự thỏa thuận của cả hai người, bằng văn bản. Nói cách khác, chỉ khi có sự đồng ý của bạn bằng văn bản, chồng bạn mới có thể sử dụng căn nhà này để góp vốn vào Công ty.

Theo Điều 31 của Luật này, “việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng”.

Có nghĩa là, giả sử căn nhà thuộc sở hữu riêng của mình, chồng bạn có thể quyết định góp vốn vào Công ty mà không cần sự đồng ý của bạn. Tuy nhiên, nếu đó là nơi ở duy nhất của hai vợ chồng, khi xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan, chồng bạn vẫn phải đảm bảo chỗ ở cho vợ chồng.

Thu Hường