HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Điều kiện nhận nuôi con nuôi trong nước?
Ngày đăng 14/04/2022 | 20:46  | Lượt xem: 110

Tôi năm nay 35 tuổi, chưa lập gia đình. Hiện tại, tôi có nhà riêng và công việc ổn định. Vừa qua, khi đi làm từ thiện tại một tỉnh miền núi, tôi đã gặp một bé gái 4 tuổi có hoàn cảnh rất đáng thương (bố mẹ đều mất sớm), cháu hiện đang sống cùng với người họ hàng xa nhưng gia cảnh của người này cũng rất khó khăn về kinh tế do đông con, công việc bấp bênh.

Tôi có ý định muốn nhận cháu bé này làm con nuôi. Vậy, cho tôi biết là tôi có thể nhận cháu bé này làm con nuôi được không? Nếu được thì tôi cần phải chuẩn bị những giấy tờ gì?

Trả lời: 

- Khoản 1, 2, 3, 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định:

“1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.

2. Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.

3. Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.

4. Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú ở Việt Nam.

6. Trẻ em mồ côi là trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được”.

- Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định Điều kiện đối với người nhận con nuôi như sau:

“1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này”.

- Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi 2010 có quy định về sự đồng ý cho làm con nuôi như sau: “Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó”.

- Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định Hồ sơ của người nhận con nuôi như sau:

“1. Đơn xin nhận con nuôi;

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này”.

Như vậy, trong trường hợp của anh/chị với những thông tin đưa ra thì anh/chị có thể được nhận cháu bé 4 tuổi là con nuôi. Do cháu bé có cha, mẹ đều đã chết thì ngoài các điều kiện được quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì cần phải có sự đồng ý của người giám hộ của cháu. Để nhận con nuôi, người đi nhận cần chuẩn bị có loại giấy tờ được quy định tại Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010.

Như Quỳnh