HÒA GIẢI CƠ SỞ

Người chồng vũ phu
Ngày đăng 02/08/2022 | 12:03  | Lượt xem: 51

Sau mỗi một câu chuyện hòa giải thành, các thành viên tổ hòa giải nơi bà tham gia  cảm thấy trách nhiệm lớn lao của mình trong mỗi một vụ việc mâu thuẫn tại khu dân cư.

Bà Nguyễn Thị Lan, Tổ trưởng Tổ dân phố số 3, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nộ đã có thời gian tham gia công tác hòa giải hơn 10 năm. Chia sẻ về kỷ niệm hòa giải, bà cho biết đó là câu chuyên hòa giải trong lĩnh vực hôn nhân gia đình tại tổ dân phố. Bà kể, năm 2021 khu dân cư số 3  có đôi vợ chồng là ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị T ở phường Quang Trung, quận Hà Đông, Hà Nội. Có hai người con chung. Ông L và bà T không hòa họp, bản thân ông L thường xuyên say xỉn, nên hai vợ chồng đã ly hôn và ông L chuyển đi nơi khác đế bà T ở lại căn nhà nuôi hai con nhỏ.

Tưởng rằng chuyện chỉ có vậy, nhưng ông L vẫn thỉnh thoảng về thăm con, sau một thời gian, tính tình cáu bẳn, đá thúng đụng nia và thường xuyên quát tháo vợ con. Con gái lớn của ông L và bà T đã trưởng thành và đã đi làm, con trai nhỏ năm nay học lớp 8. Theo như bà T kể lại căn nhà chung của 2 vợ chồng chưa có giấy tờ hợp pháp mà chỉ là một gian được bố mẹ chồng làm và cho từ xưa. Ông L cùng gia đình nhà ông L chủ đích muốn đuổi bà T và các con ra khỏi nhà đề nhằm đòi lại căn nhà nên nhiều lần lôi kéo nhau đến đập phá, chửi bới mẹ con họ. Ban ngày bà T đi làm, chiều tối mới về, ông L lại kéo theo anh chị em đến gây sự và thường xuyên gây mất trật tự công cộng. Hàng xóm láng giềng phải vào can ngăn, ông L mới chịu bỏ về.

Một lần mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, ông L lại kéo theo một vài người đến gây sự và đánh bà T đến chảy máu mồm, thâm tím mặt mày, các con chung của họ ôm mẹ khóc nức nở.

Nhận được thông tin của cư dân báo gấp, Tổ hòa giải bao gồm tổ trưởng dân phố cùng cán bộ chi hội là thành viên tổ hòa giải vào cuộc đồng thời gọi lực lượng Công an phường phối hợp đến giải quyết về an ninh trật tự. Tổ hòa giải của Tổ dân phố đã cùng các thành viên đã phân tích cho ông L về quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn theo Điều 82 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bản thân ông L đã không làm tròn trách nhiệm của người cha trong việc nuôi dạy con cái, cũng không cấp dưỡng cho con cái sau khi ly hôn, gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, nên bà T hoặc Hội liên hiệp phụ nữ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân nơi thụ lý ly hôn của ông L và bà T ra quyết định hạn chế quyền của người cha đối với con chưa thành niên. Nay ông Lâm lại thường xuyên say xỉn, phá phách và đánh đập vợ cũ, ông có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.

Sau khi tố hòa giải cùng Công an phường phân tích cặn kẽ, ông L tỏ ra xấu hổ, ăn năn và hứa sẽ không gây mất trật tự nơi công cộng và cũng sẽ không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mẹ con bà T nữa. Sau sự việc bà T trực tiếp gặp Tổ hòa giải và cảm ơn cả tổ hòa giải đã can thiệp kịp thời không để vụ việc trở nên trầm trọng.

Từ vụ việc trên tổ hòa giải , bà cho biết bà và các thành viên trong tổ luôn phân công thành viên thường xuyên dành thời gian qua lại thăm hỏi và động viên gia đình chị T, trong tổ lấy đây là vụ việc tiêu biểu tuyên truyền sâu rộng qua các hội nghị tổ dân phố. Nhiều năm qua công tác hòa giải làm tốt nên không có vụ việc nào xảy ra.

Sau mỗi một câu chuyện hòa giải thành, các thành viên tổ hòa giải nơi bà tham gia  cảm thấy trách nhiệm lớn lao của mình trong mỗi một vụ việc mâu thuẫn tại khu dân cư. Bản thân bà và mọi người luôn ý thực được việc cần phải luôn trau dồi và cập nhập kịp thời kiến thức pháp luật, tích cực tham gia các buổi tập huấn chuyên đề về công tác hòa giải hàng năm do UBND phường và cấp trên tổ chức. Để có thêm kiến thức tư vấn cho người dân thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, tránh những sai phạm cũng như hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác41

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Nguyễn Thị Lan, Tổ trưởng TDP3, phường Quang Trung, quận Hà Đông