HỘ TỊCH - QUỐC TỊCH

Giấy chứng nhận kết hôn bị rách nát không sử dụng được có được đăng ký lại kết hôn?
Ngày đăng 29/07/2022 | 16:47  | Lượt xem: 117

Tôi và vợ đăng ký kết hôn năm 1970. Hiện nay, chúng tôi vẫn giữ được bản chính Giấy chứng nhận kết hôn nhưng đã rách nát, mất hết phần tên của vợ chồng tôi

Vợ chồng tôi đã ra UBND huyện xin cấp bản sao thì được cán bộ trả lời Sổ hộ tịch của năm đó không còn lưu trữ được nên không thể cấp bản sao. Xin hỏi, trường hợp của vợ chồng tôi làm thế nào để có Giấy chứng nhận kết hôn?

Trả lời:

Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử như sau:

“1. Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.

2. Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.

3. Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

Căn cứ quy định trên, thì trường hợp của ông/bà mặc dù vẫn còn Giấy chứng nhận kết hôn nhưng đã rách nát, không sử dụng được và Sổ hộ tịch không còn lưu trữ được thì vẫn được coi như trường hợp Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất và đủ điều kiện được đăng ký lại kết hôn.

Về thẩm quyền đăng ký lại kết hôn được quy định tại Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP: 1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai ttrước đây thực hiện đăng ký lại khai tử.

Như vậy, vợ chồng ông/bà có thể lựa chọn đăng ký lại kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ông/bà thường trú hiện nay.

Vợ chồng ông/bà cần chuẩn bị hồ sơ theo quy định tại khoản 1, Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, cụ thể như sau:

“1. Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:

a) Tờ khai theo mẫu quy định;

b) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bn sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.

Và xuất trình giấy tờ theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP: 1. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.”

Thủ tục đăng ký lại kết hôn được quy định tại khoản 2, Điều 27 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP: 2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định tại Khoản 2 Điều này.

4. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 01 tháng 01 của năm đăng ký kết hôn trước đây.

Nguyễn Tuân