HÌNH SỰ

Xử lý đối với người cho thuê địa điểm và người sử dụng trái phép chất ma túy
Ngày đăng 06/04/2022 | 15:40  | Lượt xem: 102

Thời gian gần đây, Quán kinh doanh dịch vụ karaoke H gần nhà tôi (do Y làm chủ) xuất hiện một số đối tượng nghiện ma túy (khoảng từ 3-5 người) nhiều lần tụ tập tại quán để sử dụng ma túy.

Thời gian gần đây, Quán kinh doanh dịch vụ karaoke H gần nhà tôi (do Y làm chủ) xuất hiện một số đối tượng nghiện ma túy (khoảng từ 3-5 người) nhiều lần tụ tập tại quán để sử dụng ma túy. Y đã bố trí một phòng riêng trên tầng thượng của quán cho các con nghiện thuê để sử dụng ma túy rồi bay lắc trong tiếng nhạc chát chúa. Đề nghị cho biết chủ quán Y và các đối tượng sử dụng ma tuý trên bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

- Đối với chủ quán Y: Theo quy định tại Điều 256 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về “Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” thì:

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với người dưới 16 tuổi;

d) Đối với 02 người trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tại mục 7, Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015) quy định:

“7. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198)

7.1. “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cho họ mượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy.

7.2. “Có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy.

7.3. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:

a) Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy, mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 197 của BLHS.

b) Người nghiện ma túy cho người nghiện ma túy khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy; đối với người nào có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 199 của BLHS.”

Như vậy, với việc cho các đối tượng nghiện ma túy thuê địa điểm để sử dụng ma túy thì chủ quán Y sẽ bị xử lý hình sự về “Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 256 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do Y phạm tội nhiều lần và đối với nhiều người nên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b và điểm d khoản 2 Điều 256 nêu trên với mức khung hình phạt là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Ngoài ra Y còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

- Đối với các đối tượng sử dụng ma túy: Với việc thuê phòng tại quán karaoke của Y để sử dụng trái phép chất ma túy, các đối tượng này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể như sau:

Điều 23. Vi phạm các quy định về phòng, chống và kiểm soát ma túy

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Khánh Chi