HÌNH SỰ

Xử lý hành vi chiếm đoạt, chiếm giữ trái phép tài sản của người khác
Ngày đăng 10/05/2022 | 18:41  | Lượt xem: 389

Có nhiều trường hợp hành khách vô tình bỏ quên đồ đạc như ví tiền, điện thoại… trên xe taxi. Và cũng không ít trường hợp tài xế không thông báo tìm chủ nhân tài sản hoặc cố tình không trả lại cho họ.

Giả sử hành khách để quên chiếc điện thoại trị giá 20 triệu đồng, nếu có hành vi nêu trên, tài xế taxi có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?

Trả lời

Nếu tài xế taxi không biết trên xe có điện thoại do hành khách bỏ quên, sau khi được thông báo hoặc tự phát hiện mà báo cho hãng xe hoặc chính quyền địa phương để tìm chủ nhân thì không vi phạm pháp luật.

Ngược lại, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Giả sử, hành khách đã thông báo để quên điện thoại trên xe, nhưng vẫn cố tình rời đi nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, tài xế taxi có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai lấy tài sản trước sự chứng kiến của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản.

Điều 172 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

b) Hành hung để tẩu thoát;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

Nếu trị giá chiếc điện thoại được định giá 20 triệu đồng như thông tin của bạn, tài xế taxi có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Nếu có tình tiết tặng nặng định khung hình phạt như hành hung hành khách để tẩu thoát, tái phạm nguy hiểm…, người này có thể bị phạt tù đến 7 năm tù.

Mặc dù không có chủ đích chiếm đoạt tài sản từ đầu, nhưng sau khi rời đi, tài xế taxi phát hiện khách để quên điện thoại và không trả lại cho họ, người này đã thực hiện hành vi chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật.

Chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có căn cứ pháp luật được quy định tại Điều 165 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.

2. Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật”.

Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là chiếm hữu tài sản trái phép trong trường hợp tài xế taxi cố tình không trả lại điện thoại của khách hàng bỏ quên trên xe.

Nếu bị xử lý hình sự, người này có thể bị xử lý về Tội chiếm giữ trái phép tài sản, được quy định tại Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đó là:

“1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Nếu trị giá chiếc điện thoại được định giá 20 triệu đồng, tài xế taxi có thể phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Thu Huwo