HÌNH SỰ

Mượn xe máy mang đi cầm cố lấy tiền tiêu sài rồi bỏ trốn phạm tội gì?
Ngày đăng 25/04/2022 | 14:50  | Lượt xem: 143

Tôi và P (35 tuổi) có mối quan hệ quen biết từ trước. Vừa qua, P mượn của tôi chiếc xe máy Honda Sh mode đời 2020 (có giá trị khoảng gần 50 triệu đồng) nói là để đi về quê 3 ngày có việc gấp và tôi đã đưa xe và giấy tờ xe cho P mượn

Sau khi nhận xe và giấy tờ xe, P đã mang đi cầm cố lấy 30 triệu đồng để tiêu sài cá nhân. Đến hẹn trả, tôi gọi điện thì P nhắn tin bảo tôi mang 30 triệu đồng đến tiệm cầm cố để chuộc xe về. Sau khi chuộc xe về, tôi gọi điện thì P tắt máy, tôi đến nhà thì được biết P đã bỏ trốn khỏi nhà từ mấy hôm nay rồi. Xin hỏi, hành vi nêu trên của P sẽ bị xử lý như thế nào? Tôi cần đến đâu để tố cáo P?

Trả lời:

Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như sau: 

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, hành vi lợi dụng quan hệ quen biết, mượn xe máy và giấy tờ xe rồi mang đi cầm cố lấy tiền tiêu sài và bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền này của P đã có đủ yếu tố cấu thành “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Với việc chiếm đoạt số tiền 30 triệu đồng thì P có thể bị xử lý theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, P còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ông/bà có thể tố giác hành vi phạm tội của P đến cơ quan Công an, Viện Kiểm sát để được xem xét, giải quyết theo quy tại khoản 2, Điều 145 Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015: “2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.”

Nguyễn Đạt