DÂN SỰ

Quy định về sở hữu chung theo phần
Ngày đăng 25/03/2022 | 15:30  | Lượt xem: 325

Anh Tín và anh Toán thỏa thuận với nhau cùng góp tiền ( vốn đóng góp là 50/50) để sở hữu chung một mảnh đất 80m2. Nhưng sau đó anh Tín cần tiền nên đã yêu cầu anh Toán mua lại phần còn lại, nhưng anh Toán từ chối. Do đó, hai bên xảy ra mâu thuẫn. Anh Tín đề nghị cho biết trong trường hợp này anh có thể chia mảnh đất đó làm đôi để chuyển nhượng cho người khác lấy tiền có được không? 

Trả lời

 - Điều 209 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về sở hữu chung theo phần như sau:

 “1. Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung.

 2. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

- Điều 218 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về định đoạt tài sản chung như sau:

“1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.

 2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.

Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.

Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

            5. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.

            6. Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 Bộ Luật Dân sự (năm 2015) (Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu)”.

Như vậy, đối chiếu với quy định của pháp luật thì khi anh Tín và anh Toán thoả thuận với nhau cùng góp tiền mua chung một mảnh đất thì mảnh đất đó được coi là tài sản thuộc sở hữu chung của anh Tín và anh Toán. Trong đó phần quyền và nghĩa vụ của anh Tín và anh Toán được xác định đối với mảnh đất đó tương ứng với phần tiền mà anh anh Tín và anh Toán đã góp vào để mua nó. Do đó, trong trường hợp khi anh Tín cần tiền để kinh doanh thì anh Tín có quyền yêu cầu anh Toán mua phần còn lại. Nếu anh Toán không mua phần đất còn lại của anh Tín trong mảnh đất chung đó thì anh Tín cũng có quyền yêu cầu anh Toán chia mảnh đất theo quy định pháp luật đất đai đó để bán cho người khác (nếu giữa anh Tín và anh Toán khi mua mảnh đất này không có thoả thuận nào khác. Đồng thời, mảnh đất đó chỉ được chia làm đôi nếu phần tiền của anh Tín góp bằng với phần tiền của anh Toán).

Như Quỳnh