DÂN SỰ

Con ngoài giá thú là người thừa kế theo pháp luật
Ngày đăng 29/07/2022 | 18:04  | Lượt xem: 230

Chú thím của tôi có hai người con gái, đã lập gia đình và ở riêng. Ngày chú mất, có người phụ nữ dẫn theo một bé trai đến xin chịu tang và nói đó là con của chú. Nếu chú không để lại di chúc, tài sản chung của chú thím có bắt buộc phải chia cho con ngoài giá thú của chú hay không?

Trả lời

Theo thông tin bạn cung cấp, chú của bạn mất và không để lại di chúc. Do vậy, di sản của chú sẽ được chia theo quy định của pháp luật.

Thừa kế theo pháp luật, theo Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015, “là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.

Điều 651 Bộ luật này quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

Căn cứ quy định nêu trên, về nguyên tắc, hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế là dì của bạn, cha mẹ đẻ (nếu còn sống), cha mẹ nuôi (nếu có và còn sống), con đẻ, con nuôi (nếu có) của chú.

Nếu bé trai kia được xác định là con đẻ của chú thì sẽ được hưởng di sản thừa kế. Bởi vì, theo khoản 2 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan”.

Cũng cần lưu ý, tất cả những người thừa kế theo pháp luật chỉ được hưởng di sản thừa kế của người chết để lại. Có nghĩa là, với tài sản chung của vợ chồng chú thím bạn, khi chú chết, cần xác định cụ thể cái gì là di sản của chú trong khối tài sản chung đó.

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Khi chú của bạn chết, quan hệ hôn nhân của chú thím chấm dứt. Việc giải quyết tài sản giữa hai người trong trường hợp này được quy định tại Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đó là:

“1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”.

Như vậy, tài sản chung của chú thím chỉ được chia khi có yêu cầu chia di sản của người chết. Trước hết, tài sản chung sẽ được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần di sản của chú, nếu không có di chúc sẽ được chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật, trong đó có bé trai với tư cách là con đẻ của chú bạn. 

Hùng Phi